Giả mạo nhãn hiệu là gì? Doanh nghiệp nên làm gì để chống giả mạo nhãn hiệu?

Nhãn hiệu không chỉ là tên gọi hoặc logo gắn trên sản phẩm. Đối với doanh nghiệp, nhãn hiệu là dấu hiệu giúp khách hàng nhận biết nguồn gốc thương mại, phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp khác. Khi nhãn hiệu có uy tín, chính uy tín đó lại trở thành mục tiêu của các hành vi làm giả, làm nhái và kinh doanh hàng hóa không được phép.

Giả mạo nhãn hiệu gây thiệt hại đồng thời trên nhiều phương diện: doanh thu bị chia sẻ, hệ thống phân phối bị xáo trộn, người tiêu dùng mất niềm tin, chi phí bảo hành và xử lý khiếu nại tăng lên. Đối với mỹ phẩm, thực phẩm, thuốc, thiết bị điện hoặc phụ tùng, hàng giả còn có thể gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và kéo theo khủng hoảng truyền thông cho chính doanh nghiệp có nhãn hiệu bị giả mạo.

Giả mạo nhãn hiệu là gì?

Theo Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ, hàng hóa giả mạo nhãn hiệu được hiểu là hàng hóa hoặc bao bì của hàng hóa có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép.

Từ định nghĩa này, một sản phẩm thường bị xem là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu khi có đủ các yếu tố cơ bản sau:

  • Thứ nhất, dấu hiệu bị sử dụng phải được gắn trên hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa. Việc “gắn” có thể được thực hiện bằng nhiều cách như in, dán, thêu, khắc, đúc, dập nổi hoặc thể hiện trực tiếp trên sản phẩm.
  • Thứ hai, dấu hiệu đó phải trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu đang được bảo hộ. “Khó phân biệt” thể hiện mức độ giống nhau rất cao, khiến người tiêu dùng thông thường có thể tin rằng hàng hóa do chủ sở hữu nhãn hiệu sản xuất hoặc cho phép sản xuất.
  • Thứ ba, dấu hiệu giả mạo được sử dụng cho chính loại hàng hóa thuộc phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu. Ví dụ, nhãn hiệu đang được bảo hộ cho mỹ phẩm nhưng bị gắn trái phép lên mỹ phẩm do một cơ sở khác sản xuất.
  • Thứ tư, việc sử dụng không được chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép. Nếu hàng hóa được sản xuất, gia công hoặc phân phối theo hợp đồng hợp pháp với chủ sở hữu thì về nguyên tắc không phải hàng giả mạo nhãn hiệu, trừ trường hợp bên được phép đã vượt quá phạm vi, số lượng, lãnh thổ hoặc thời hạn được ủy quyền.

Giả mạo nhãn hiệu khác gì với xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu?

Đây là điểm thường bị nhầm lẫn. Mọi hàng hóa giả mạo nhãn hiệu đều xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, nhưng không phải mọi hành vi xâm phạm nhãn hiệu đều là giả mạo nhãn hiệu.

Theo Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 77 Nghị định 65/2023/NĐ-CP, hành vi sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ có thể cấu thành xâm phạm quyền. Phạm vi này rộng hơn khái niệm hàng hóa giả mạo nhãn hiệu.

Chẳng hạn, doanh nghiệp sử dụng một logo có một số điểm tương tự với nhãn hiệu của người khác cho hàng hóa có liên quan, làm khách hàng nhầm lẫn về nguồn gốc, có thể bị xác định là xâm phạm quyền. Tuy nhiên, nếu dấu hiệu chưa đến mức trùng hoặc khó phân biệt và không được sử dụng cho chính mặt hàng mang nhãn hiệu được bảo hộ thì chưa chắc đã đủ điều kiện để gọi là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu.

Việc phân biệt có ý nghĩa quan trọng vì căn cứ xử lý, mức độ vi phạm, biện pháp tiêu hủy và khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự có thể khác nhau.

Hàng nhập khẩu chính hãng được đưa vào Việt Nam mà không thông qua nhà phân phối được chỉ định cũng không mặc nhiên là hàng giả mạo nhãn hiệu. Cần xem xét nguồn gốc hàng hóa, tình trạng quyền đối với nhãn hiệu, nguyên tắc hết quyền và các điều kiện nhập khẩu liên quan trước khi kết luận.

Những hành vi nào được xem là giả mạo hoặc liên quan đến hàng hóa giả mạo nhãn hiệu?

Hành vi điển hình nhất là tự sản xuất sản phẩm rồi gắn nhãn hiệu trùng hoặc gần như không thể phân biệt với nhãn hiệu của doanh nghiệp khác. Ví dụ, một cơ sở sản xuất giày sử dụng trái phép logo và tên nhãn hiệu đang được bảo hộ để làm người mua tin rằng đó là sản phẩm chính hãng.

Bên cạnh hoạt động trực tiếp sản xuất, pháp luật còn xử lý nhiều hành vi tham gia vào chuỗi cung ứng hàng giả, bao gồm:

  • Đặt in, sản xuất hoặc mua bán tem, nhãn, bao bì, hộp, túi hoặc vật phẩm mang nhãn hiệu giả mạo.
  • Gắn nhãn hiệu giả mạo lên hàng hóa, bao bì hoặc thay thế nhãn gốc bằng nhãn giả.
  • Đóng chai, sang chiết hoặc đưa hàng hóa không chính hãng vào bao bì có nhãn hiệu của chủ thể khác. Việc sử dụng lại chai, lọ hoặc bao bì chính hãng để chứa sản phẩm không do chủ sở hữu nhãn hiệu cung cấp vẫn có thể tạo thành hàng hóa giả mạo.
  • Sản xuất hàng hóa vượt quá số lượng được chủ sở hữu cho phép rồi gắn nhãn hiệu và tự đưa phần vượt quá ra thị trường. Trường hợp này cần xem xét cụ thể hợp đồng gia công, phạm vi ủy quyền và chứng cứ về số lượng được phép sản xuất.
  • Nhập khẩu hàng hóa giả mạo nhãn hiệu vào Việt Nam hoặc xuất khẩu hàng hóa giả mạo từ Việt Nam.
  • Tàng trữ hàng hóa giả mạo với mục đích bán hoặc đưa ra thị trường.
  • Vận chuyển, phân phối, chào hàng, trưng bày, quảng cáo hoặc bán hàng hóa giả mạo tại cửa hàng, kho, hội chợ, website, mạng xã hội, ứng dụng hoặc sàn thương mại điện tử.
  • Giao cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện việc sản xuất, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển hoặc buôn bán hàng hóa giả mạo.
  • Sử dụng gian hàng, tài khoản, tên miền, từ khóa quảng cáo hoặc nội dung số để mạo nhận là đại lý, nhà phân phối hoặc kênh bán hàng chính thức nhằm tiêu thụ hàng giả.

Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ coi việc gắn nhãn hiệu, đưa hàng hóa mang nhãn hiệu ra lưu thông, chào bán, quảng cáo, tàng trữ để bán và nhập khẩu hàng hóa mang nhãn hiệu là các hình thức sử dụng nhãn hiệu. Vì vậy, người bán không trực tiếp sản xuất hàng giả vẫn có thể bị xử lý nếu thực hiện các hành vi thương mại đối với hàng hóa giả mạo.

Hành vi giả mạo nhãn hiệu bị xử lý như thế nào?

Trước hết, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền yêu cầu bên vi phạm chấm dứt hành vi, gỡ bỏ dấu hiệu vi phạm, thu hồi hàng hóa, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại. Chủ sở hữu cũng có thể yêu cầu cơ quan nhà nước xử lý hành chính, khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị khởi tố khi vụ việc có dấu hiệu tội phạm.

Về hành chính, Nghị định 99/2013/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi quy định mức phạt dựa trên hành vi, giá trị hàng hóa vi phạm và chủ thể vi phạm. Đối với tổ chức, mức phạt tiền thông thường bằng hai lần mức áp dụng đối với cá nhân và có thể lên đến 500 triệu đồng trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Hàng hóa giả mạo, tem nhãn, bao bì, nguyên liệu và phương tiện vi phạm còn có thể bị tịch thu, tiêu hủy; hoạt động kinh doanh có thể bị đình chỉ.

Nghị định 186/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 15/7/2026, đã cập nhật thẩm quyền xử phạt của Cục Sở hữu trí tuệ, quản lý thị trường, hải quan, công an, UBND các cấp và Sở Khoa học và Công nghệ. Do đó, doanh nghiệp cần lựa chọn đúng cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào địa điểm, hình thức và giai đoạn lưu thông của hàng hóa.

Về dân sự, Tòa án có thể buộc chấm dứt hành vi, xin lỗi, cải chính, bồi thường, thu hồi hoặc tiêu hủy hàng hóa. Theo Luật số 131/2025/QH15, nếu không thể xác định thiệt hại vật chất theo các căn cứ thông thường, Tòa án có thể ấn định mức bồi thường nhưng không quá một tỷ đồng. Hàng hóa giả mạo nhãn hiệu về nguyên tắc bị buộc tiêu hủy, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định.

Về hình sự, Điều 226 Bộ luật Hình sự điều chỉnh hành vi cố ý xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, nếu được thực hiện với quy mô thương mại hoặc đạt các ngưỡng về thu lợi bất chính, thiệt hại hay giá trị hàng hóa. Cá nhân có thể bị phạt tù đến ba năm; pháp nhân thương mại có thể bị phạt đến năm tỷ đồng, đình chỉ hoạt động hoặc chịu các hình phạt bổ sung.

Nếu hàng hóa đồng thời là hàng giả về công dụng, chất lượng, thuốc chữa bệnh, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, thức ăn chăn nuôi hoặc phân bón thì còn có thể bị xem xét theo các Điều 192 – 195 Bộ luật Hình sự. Việc lựa chọn tội danh phải dựa trên bản chất hàng hóa, hành vi và hậu quả cụ thể, không chỉ dựa vào việc sản phẩm có gắn nhãn hiệu giả.

>>>>>> Xem thêm bài viết: Dịch Vụ Đăng Ký Nhãn Hiệu Tại Việt Nam

Doanh nghiệp nên làm gì để chống giả mạo nhãn hiệu?

Dưới đây là những biện pháp doanh nghiệp nên thực hiện để chủ động bảo vệ nhãn hiệu, hạn chế nguy cơ bị giả mạo và kịp thời xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Doanh nghiệp nên đăng ký tên thương hiệu, logo và các dấu hiệu chủ lực trước khi sản phẩm được đưa ra thị trường. Danh mục đăng ký phải bao phủ đúng hàng hóa, dịch vụ đang kinh doanh và những nhóm dự kiến mở rộng.

Ngoài nhãn hiệu chính, doanh nghiệp cần xem xét bảo hộ phiên bản chữ, hình, slogan, nhãn hiệu phụ và hình thức bao bì đặc trưng. Nếu kinh doanh ở nước ngoài, cần đăng ký tại những thị trường sản xuất, xuất khẩu và tiêu thụ quan trọng; đăng ký tại Việt Nam không tự động tạo quyền ở quốc gia khác.

Doanh nghiệp nên duy trì một bộ hồ sơ bảo vệ nhãn hiệu, gồm văn bằng bảo hộ, bản gia hạn, hợp đồng chuyển giao hoặc ủy quyền, mẫu sản phẩm thật, mẫu bao bì qua từng thời kỳ, hóa đơn, chứng từ, tài liệu quảng cáo và số liệu kinh doanh.

Đồng thời, cần xây dựng tài liệu hướng dẫn phân biệt thật – giả dành cho đại lý, sàn thương mại điện tử, quản lý thị trường, công an và hải quan. Tài liệu nên chỉ rõ đặc điểm nhận diện nhưng không công khai toàn bộ yếu tố bảo mật.

Hợp đồng với nhà sản xuất, cơ sở gia công, đơn vị in bao bì và nhà phân phối phải quy định rõ quyền sở hữu nhãn hiệu, số lượng được sản xuất, phạm vi sử dụng nhãn, nghĩa vụ hoàn trả hoặc tiêu hủy tem nhãn dư thừa, quyền kiểm tra và trách nhiệm bồi thường.

Doanh nghiệp cũng cần kiểm soát hàng mẫu, hàng lỗi, hàng đổi trả và sản phẩm tồn kho. Đây là những nguồn hàng dễ bị đưa ra thị trường ngoài hệ thống chính thức hoặc bị sử dụng để trộn lẫn với hàng giả.

Mã định danh theo từng sản phẩm, mã QR biến đổi, tem chống bóc, số seri hoặc giải pháp truy xuất có thể giúp phát hiện hàng bất thường. Tuy nhiên, tem chống giả không thay thế việc đăng ký và bảo vệ nhãn hiệu; bản thân tem cũng có thể bị sao chép.

Giải pháp hiệu quả phải kết nối dữ liệu sản xuất, kho, đại lý, thời điểm kích hoạt và lịch sử quét để phát hiện một mã được sử dụng nhiều lần hoặc xuất hiện ngoài khu vực phân phối dự kiến.

Doanh nghiệp nên theo dõi cửa hàng, chợ đầu mối, đại lý, sàn thương mại điện tử, mạng xã hội, quảng cáo trả tiền, tên miền và ứng dụng. Việc giám sát cần được thực hiện định kỳ theo nhóm sản phẩm, khu vực và từ khóa rủi ro.

Khi phát hiện vi phạm trực tuyến, doanh nghiệp có thể yêu cầu nền tảng gỡ bỏ sản phẩm, gian hàng, tài khoản hoặc nội dung vi phạm. Luật Sở hữu trí tuệ sau sửa đổi năm 2025 đã nhấn mạnh trách nhiệm của chủ quản nền tảng số trong việc triển khai biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường mạng.

Nếu nhãn hiệu thường xuyên bị làm giả từ hàng nhập khẩu, doanh nghiệp nên nộp đơn đề nghị cơ quan hải quan kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu có dấu hiệu xâm phạm. Hồ sơ cần kèm theo văn bằng bảo hộ, hình ảnh hàng thật, dấu hiệu nhận biết hàng giả, thông tin nhà nhập khẩu hợp pháp và các tuyến nhập khẩu có nguy cơ.

Thông tư 06/2026/TT-BTC đã cập nhật thủ tục kiểm tra, giám sát và tạm dừng làm thủ tục hải quan. Đây là biện pháp phòng ngừa quan trọng vì hàng hóa có thể được phát hiện trước khi phân tán vào thị trường.

Khi phát hiện hàng nghi giả, doanh nghiệp không nên chỉ chụp ảnh rồi gửi thư cảnh báo. Cần mua mẫu có kiểm soát, giữ hóa đơn, ghi nhận thông tin người bán, kho hàng, tài khoản nhận tiền, vận đơn, hình ảnh và nội dung quảng cáo. Đối với chứng cứ trực tuyến, có thể cân nhắc lập vi bằng hoặc sử dụng phương thức ghi nhận điện tử có khả năng chứng minh nguồn và thời điểm.

Sau khi bảo toàn chứng cứ, doanh nghiệp lựa chọn biện pháp phù hợp: yêu cầu nền tảng gỡ bỏ; gửi thư yêu cầu chấm dứt; đề nghị quản lý thị trường, công an, hải quan hoặc cơ quan khoa học và công nghệ kiểm tra; khởi kiện dân sự; hoặc chuyển hồ sơ có dấu hiệu tội phạm.

Việc gửi cảnh báo quá sớm trong một vụ việc có kho hàng lớn có thể khiến đối tượng tẩu tán hàng hóa. Vì vậy, trình tự xử lý cần được quyết định theo mục tiêu của từng vụ việc.

Chống giả không nên chỉ bắt đầu khi doanh nghiệp phát hiện một lô hàng vi phạm. Doanh nghiệp cần phân công đầu mối chịu trách nhiệm, thiết lập ngân sách, kênh tiếp nhận phản ánh, cơ chế thưởng thông tin và hệ thống báo cáo định kỳ.

Các chỉ tiêu nên theo dõi gồm số vụ phát hiện, số gian hàng được gỡ bỏ, lượng hàng bị thu giữ, địa bàn rủi ro, thời gian phản ứng và tỷ lệ tái phạm. Dữ liệu này giúp doanh nghiệp nhận diện mắt xích yếu trong chuỗi cung ứng và lựa chọn đúng biện pháp thực thi.

Kết luận

Giả mạo nhãn hiệu không chỉ là việc “sao chép logo”. Đó là việc sử dụng trái phép dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu đang được bảo hộ cho chính hàng hóa tương ứng, đồng thời có thể bao gồm cả chuỗi hành vi sản xuất tem nhãn, gia công, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, quảng cáo và buôn bán.

Biện pháp phòng chống hiệu quả phải kết hợp ba lớp: xác lập quyền đầy đủ; kiểm soát chuỗi cung ứng và thị trường; phản ứng pháp lý nhanh dựa trên chứng cứ hợp lệ. Đăng ký nhãn hiệu tạo nền móng pháp lý, nhưng chỉ cơ chế giám sát và thực thi thường xuyên mới giúp doanh nghiệp biến quyền trên văn bằng thành sự bảo vệ thực tế trên thị trường.

Liên hệ Monday VietNam để được đội ngũ Chuyên gia – Luật sư tư vấn giải pháp bảo vệ nhãn hiệu, đánh giá rủi ro và hỗ trợ xử lý vi phạm phù hợp, giúp doanh nghiệp chủ động bảo vệ thương hiệu và quyền lợi hợp pháp của mình.


Nhóm quy địnhVăn bản hiện hành chủ yếuNội dung liên quan
Xác lập quyền và nhận diện hành viLuật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11, được sửa đổi các năm 2009, 2019, 2022, 2025; mới nhất là Luật số 131/2025/QH15, hiệu lực 01/4/2026Điều 124 về sử dụng nhãn hiệu; Điều 129 về xâm phạm quyền; Điều 198 về quyền tự bảo vệ; Điều 202 về biện pháp dân sự; Điều 211 và Điều 213 về hàng hóa giả mạo nhãn hiệu
Xác định yếu tố xâm phạm và xử lý hàng hóaNghị định 65/2023/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 15/2026, 33/2026 và 100/2026/NĐ-CPĐiều kiện xác định hành vi xâm phạm; yếu tố xâm phạm nhãn hiệu; chứng cứ; giám định; yêu cầu xử lý; tiêu hủy, tái xuất hoặc xử lý hàng hóa vi phạm
Hướng dẫn thủ tục sở hữu công nghiệpThông tư 23/2023/TT-BKHCN, được thay thế, sửa đổi và hợp nhất tại Văn bản hợp nhất 06/VBHN-BKHCN ngày 24/6/2026Thủ tục đăng ký, duy trì, sửa đổi, ghi nhận và quản lý quyền đối với nhãn hiệu
Xử phạt hành chính về sở hữu công nghiệpNghị định 99/2013/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 126/2021, 46/2024 và mới nhất là Nghị định 186/2026/NĐ-CP, hiệu lực 15/7/2026Xử phạt sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, tàng trữ, chào bán, buôn bán hàng hóa giả mạo nhãn hiệu; xử lý tem, nhãn, bao bì giả mạo; thẩm quyền của quản lý thị trường, công an, hải quan, cơ quan sở hữu trí tuệ và UBND
Hướng dẫn xử phạtThông tư 11/2015/TT-BKHCN, được sửa đổi bởi Thông tư 06/2024/TT-BKHCNHồ sơ yêu cầu xử lý, xác định giá trị hàng hóa vi phạm, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả
Hàng giả trong hoạt động thương mạiNghị định 98/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 17/2022 và Nghị định 24/2025/NĐ-CP; được hợp nhất tại 03/VBHN-BCT năm 2025Xác định và xử phạt sản xuất, buôn bán hàng giả về công dụng, chất lượng, nhãn hàng hóa, nguồn gốc; cần phân biệt với hàng hóa giả mạo nhãn hiệu theo Luật SHTT
Trách nhiệm hình sựBộ luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2017 và Luật số 86/2025/QH15Điều 226 về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; các Điều 192–195 về sản xuất, buôn bán hàng giả trong những trường hợp tương ứng
Kiểm soát tại biên giớiLuật Hải quan 2014; Luật Sở hữu trí tuệ; Thông tư 13/2015/TT-BTC, được sửa đổi bởi Thông tư 13/2020 và mới nhất là Thông tư 06/2026/TT-BTCKiểm tra, giám sát, tạm dừng thủ tục hải quan đối với hàng xuất khẩu, nhập khẩu nghi ngờ giả mạo nhãn hiệu
Môi trường thương mại điện tửLuật Sở hữu trí tuệ, đặc biệt Điều 198b sau sửa đổi năm 2025; Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15Trách nhiệm của doanh nghiệp trung gian, chủ quản nền tảng số; gỡ bỏ, ngăn chặn và xử lý nội dung, tài khoản, gian hàng liên quan đến hàng xâm phạm

Viết bởi:

Quý khách cần tư vấn về Sở hữu trí tuệ & Pháp lý cho doanh nghiệp?

Monday VietNam cung cấp giải pháp pháp lý toàn diện cho doanh nghiệp, từ bảo hộ tài sản trí tuệ, pháp lý quản trị nội bộ, pháp lý tuân thủ, lao động nhân sự và giải quyết tranh chấp...

📞 Hotline: 086 200 6070
📧 Email: mdvn@mondayvietnam.com

* Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức và không làm phát sinh quan hệ tư vấn giữa người đọc và Monday VietNam. Do quy định pháp luật có thể thay đổi và việc áp dụng phụ thuộc vào từng trường hợp, doanh nghiệp nên liên hệ Monday VietNam để được tư vấn cụ thể.

Chat với chúng tôi qua Facebook
Chat với chúng tôi qua Zalo
Gọi ngay cho chúng tôi