Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được ví như một tác động đối với hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ (SHTT) tại Việt Nam. Một trong những thay đổi đó là việc mở rộng khái niệm nhãn hiệu truyền thống (vốn chỉ giới hạn ở các dấu hiệu nhìn thấy được) sang các dấu hiệu phi truyền thống, cụ thể là nhãn hiệu âm thanh. Để nội luật hóa cam kết này, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2022 đã chính thức đặt nền móng pháp lý cho phép bảo hộ nhãn hiệu âm thanh.
Tuy nhiên, từ văn bản luật đến thực tiễn thực thi là một khoảng cách. Trong suốt giai đoạn từ năm 2022 đến trước năm 2026, việc đăng ký và thực thi quyền đối với nhãn hiệu âm thanh tại Việt Nam rơi vào tình trạng gặp rất nhiều trở ngại. Nguyên nhân cốt lõi là do thiếu các văn bản hướng dẫn dưới luật mang tính cụ thể hoá. Cơ quan quản lý (Cục Sở hữu trí tuệ) và doanh nghiệp đều lúng túng vì thiếu bộ tiêu chí định lượng để đánh giá tính phân biệt và khả năng gây nhầm lẫn – hai điều kiện cần thiết để một dấu hiệu được công nhận là nhãn hiệu.
Sự ra đời của Thông tư 10/2026/TT-BKHCN phần nào giải quyết vấn đề này. Bằng việc bổ sung các tiêu chí cụ thể để đánh giá khả năng gây nhầm lẫn của dấu hiệu âm thanh, Thông tư không chỉ làm rõ ranh giới pháp lý mà còn cung cấp một công cụ kỹ thuật cho các thẩm định viên và chuyên gia SHTT. Bài viết sau của Monday VietNam sẽ phân tích các khía cạnh pháp lý, kỹ thuật và thực tiễn của quy định mới này.

Bản chất của nhãn hiệu âm thanh và thách thức trong việc xác định tính phân biệt
Để hiểu được tầm quan trọng của Thông tư 10/2026/TT-BKHCN, trước hết cần nhìn nhận bản chất khác biệt giữa nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu truyền thống.
- Nhãn hiệu truyền thống (chữ, hình ảnh): Tác động trực tiếp vào thị giác. Con người có xu hướng lưu giữ cách phát âm, thứ tự chữ và màu sắc, hình ảnh. Khả năng so sánh đối chứng dựa trên các dấu hiệu cụ thể và nhìn thấy được.
- Nhãn hiệu âm thanh: Tác động vào thính giác. Một nhãn hiệu âm thanh có thể là một đoạn nhạc ngắn (như tiếng chuông đặc trưng Nokia), một âm thanh tự nhiên hoặc nhân tạo được cách điệu, hoặc tiếng nói kết hợp trên nền nhạc. Thách thức lớn nhất trong việc thẩm định nhãn hiệu âm thanh là tính chủ quan của thính giác và sự biến đổi theo thời gian. Người tiêu dùng không nghe một nhãn hiệu âm thanh một cách cô lập, họ trải nghiệm nó trong một môi trường có nhiều tiếng ồn và ký ức thính giác thường kém chính xác hơn ký ức thị giác. Do đó, nếu không có một bộ tiêu chí tách bạch các thành phần cấu thành âm thanh, việc kết luận hai âm thanh “tương tự” hay “khác biệt” hoàn toàn phụ thuộc vào cảm tính của người thẩm định.
Tiêu chí đánh giá khả năng phân biệt của dấu hiệu âm thanh
Khả năng phân biệt là điều kiện cần để một dấu hiệu âm thanh được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu. Căn cứ theo Khoản 3 Điều 76 Thông tư 10/2026/TT-BKHCN quy định các trường hợp dấu hiệu âm thanh bị coi là không có khả năng phân biệt bao gồm:
Âm thanh phổ biến, thông dụng
Tại điểm a quy định đối với loại âm thanh phổ biến, thông dụng được sử dụng cho hàng hoá, dịch vụ hoặc các lĩnh vực liên quan và đã trở nên quen thuộc đối với công chúng liên quan thì không có khả năng phân biệt. Quy định này loại trừ quyền bảo hộ đối với những âm thanh mang tính đại chúng, đã được sử dụng rộng rãi và trở nên quen thuộc với công chúng. Đồng thời cũng nhằm ngăn chặn việc độc quyền đối với các âm thanh thuộc nhóm tài sản công cộng hoặc các âm thanh mang tính đặc trưng của một ngành nghề.
Âm thanh quá phức tạp hoặc quá dài
Các dấu hiệu âm thanh có cấu trúc nhạc lý quá rườm rà, đan xen quá nhiều giai điệu, âm sắc hoặc có thời lượng kéo dài sẽ bị từ chối do không đảm bảo khả năng nhận biết và lưu giữ thông tin của thính giác thông thường. Nhãn hiệu phải đảm bảo chức năng định danh nguồn gốc thương mại trong thời gian ngắn. Khi cấu trúc âm thanh vượt quá giới hạn ghi nhớ thông thường do có nhiều tầng âm sắc hỗn hợp hoặc thời lượng tương đương một tác phẩm âm nhạc, dấu hiệu đó mất đi chức năng của một nhãn hiệu và thuộc phạm vi điều chỉnh của quyền tác giả.
Âm thanh quá ngắn và đơn giản
Âm thanh chỉ bao gồm 1 hoặc 2 nốt nhạc không có khả năng phân biệt đối với dấu hiệu âm thanh. Các cấu trúc quá ngắn không đủ dữ liệu kỹ thuật để tạo ra nét đặc trưng riêng biệt. Việc cho phép bảo hộ các dấu hiệu này sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động quảng bá thông thường của các doanh nghiệp khác.
Âm thanh mang nội dung mô tả hàng hoá, dịch vụ.
Dấu hiệu âm thanh bị coi là không có khả năng phân biệt nếu như mang tính mô tả trực tiếp các thành phần biểu thị đặc tính của sản phẩm, như các thông tin về thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu. Quy định áp dụng thành phần vật lý và phần ngôn ngữ. Nếu dấu hiệu âm thanh là lời đọc liệt kê thành phần, công dụng của sản phẩm, dấu hiệu âm thanh sẽ bị từ chối do không có khả năng phân biệt.
Âm thanh mang nội dung mô tả, chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ.
Tương tự nhãn hiệu truyền thống, nhãn hiệu âm thanh không được độc quyền tên gọi địa danh hoặc các giai điệu mang tính đặc trưng văn hoá gắn liền với một vùng địa lý để chỉ nguồn gốc của sản phẩm, trừ trường hợp đăng ký dưới hình thức chỉ dẫn địa lý.
Âm thanh mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh
Các dấu hiệu âm thanh truyền tải thông điệp hoặc mang ngôn từ mang ý nghĩa định danh về mô hình tổ chức doanh nghiệp và phân khúc hoạt động kinh doanh thương mại sẽ không được chấp nhận. Phần lời âm thanh biểu thị các cụm từ như “Công ty cổ phần”, “Tập đoàn”, “Trách nhiệm hữu hạn” hoặc các từ chỉ lĩnh vực như “Banking” không có khả năng phân biệt.

Tiêu chí đánh giá khả năng gây nhầm lẫn của dấu hiệu âm thanh
Khi dấu hiệu âm thanh có đủ khả năng phân biệt nội tại, cơ quan quản lý sẽ tiến hành đánh giá khả năng gây nhầm lẫn với các nhãn hiệu đối chứng khác theo quy định tại Khoản 2 Điều 78 Thông tư 10/2026/TT-BKHCN.
Để đánh giá khả năng gây nhầm lẫn của một dấu hiệu âm thanh thì cần đánh giá đồng thời 3 yếu tố sau:
- Yếu tố âm thanh kỹ thuật: Thẩm định viên sẽ thực hiện bóc tách và đối chiếu các thông số vật lý và nhạc lý bao gồm: độ dài thời gian, cấu trúc đơn thanh hay đa thanh, thành phần các nguồn phát âm, giai điệu, tiết tấu để đánh giá khả năng gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đối chứng.
- Yếu tố ngôn ngữ kèm theo: Trong trường hợp dấu hiệu âm thanh có nội dung là lời nói hoặc tiếng hát, thì phần nội dung đó sẽ được bóc tách để so sánh với các nhãn hiệu chữ khác.
- Mối liên hệ với hàng hoá, dịch vụ: Khả năng gây nhầm lẫn của âm thanh không xét độc lập mà phải đặt trong mối tương quan với danh mục hàng hoá, dịch vụ đi kèm theo Bảng phân loại Nice.
- Phân định dấu hiệu trùng và tương tự đến mức gây nhầm lẫn của dấu hiệu âm thanh.
Thông tư 10/2026/TT-BKHCN phân định rõ hai trạng thái tại điểm b và điểm c nhằm chuẩn hóa việc đưa ra kết luận thẩm định.
a) Cơ chế xác định dấu hiệu trùng
Dấu hiệu nếu không có bất kỳ sự khác biệt nào về tần số, giai điệu, lời nói đối với nhãn hiệu đối chứng bị coi là dấu hiệu trùng. Trên thực tế, hành vi này thường gắn liền với việc sao chép nguyên bản định dạng kỹ thuật số của chủ sở hữu có trước.
b) Cơ chế xác định dấu hiệu tương tự đến mức gây nhầm lẫn
Theo quy định dấu hiệu âm thanh chia tách thành hai nhóm cụ thể để chỉ về các hành vi biến tướng cấu trúc âm thanh.
Nhóm 1: Sự tương đồng dựa trên nhận thức của người tiêu dùng
- Gần giống về yếu tố âm thanh: Sử dụng lại trục giai điệu cốt lõi nhưng thay đổi phối khí, thay đổi nhạc cụ thể hiện hoặc điều chỉnh nhẹ một vài nốt nhạc ở phần cuối.
- Gần giống về yếu tố ngôn ngữ: Từ ngữ xuất hiện trong đoạn âm thanh có hiện tượng đồng âm với nhau (ví dụ: Three và Tree), dẫn đến việc khi phát bằng âm thanh, người nghe không thể phân biệt dựa trên ký tự viết.
- Gần giống về ý nghĩa: Nội dung dịch nghĩa hoặc thông điệp của phần lời truyền tải trùng khớp với ý nghĩa của nhãn hiệu đối chứng trong cùng một ngữ cảnh.
Việc tương đồng này có thể làm người tiêu dùng lầm tưởng 2 đối tượng này thuộc 1 chủ thể, dấu hiệu âm thanh này là biến thể của dấu hiệu âm thanh kia. Hoặc sự tương đồng này làm người tiêu dùng tưởng rằng hai đối tượng có cùng một nguồn gốc thương mại.
Nhóm 2: Cơ chế bảo hộ chéo cho nhãn hiệu nổi tiếng
Theo quy định dấu hiệu chỉ là phát âm từ nhãn hiệu đối chứng nếu nhãn hiệu đối chứng là nhãn hiệu nổi tiếng. Quy định này thiết lập nguyên tắc bảo hộ xuyên định dạng. Khi một nhãn hiệu truyền thống đã đạt trạng thái nổi tiếng theo quy định của pháp luật, các chủ thể khác không được phép chuyển thể nhãn hiệu đó sang định dạng âm thanh để nộp đơn đăng ký cho cùng nhóm ngành hàng. Quy định này giúp ngăn chặn hành vi khai thác danh tiếng của thương hiệu sẵn có thông qua việc thay đổi hình thức thể hiện từ thị giác sang thính giác.

Thách thức trong thẩm định nhãn hiệu âm thanh và giải pháp cho doanh nghiệp
a) Thách thức kỹ thuật đối với cơ quan thẩm định
Mặc dù Thông tư 10/2026/TT-BKHCN đã chuẩn hóa hệ thống tiêu chí, việc thực thi vẫn đối mặt với các hạn chế:
- Hạn chế về cơ sở dữ liệu âm thanh và hệ thống dò quét tự động: Hiện tại vẫn còn hạn chế về cơ sở dữ liệu tích hợp thuật toán so khớp phổ âm tự động cho toàn bộ đơn nộp vào, việc thẩm định vẫn phụ thuộc lớn vào việc đối chiếu thủ công và năng lực nhận biết thính giác của thẩm định viên.
- Độ lệch trong thẩm định chữ trong dấu hiệu âm thanh: Cơ chế tra cứu chéo giữa nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu chữ đòi hỏi quy trình chuyển ngữ chính xác để tránh bỏ sót các nhãn hiệu đối chứng dạng chữ.
b) Khuyến nghị giải pháp cho doanh nghiệp
Để kiểm soát rủi ro pháp lý và nâng cao khả năng được cấp văn bằng bảo hộ, doanh nghiệp cần tuân thủ các bước chuẩn bị hồ sơ sau:
- Văn bản hóa tối đa dữ liệu thính giác: Khi nộp đơn, ngoài tệp dữ liệu âm thanh chuẩn (MP3/WAV), doanh nghiệp bắt buộc phải nộp kèm bản ký âm (nốt nhạc, nhịp điệu) đối với âm thanh có nhạc tính, hoặc biểu đồ sóng âm đối với tiếng động tự nhiên.
- Chuyển biên ngôn ngữ: Cung cấp bản dịch nghĩa và bản phiên âm chính xác của tất cả các từ ngữ xuất hiện trong đoạn âm thanh để phục vụ khâu tra cứu chéo của thẩm định viên.
- Tra cứu chéo hệ thống nhãn hiệu chữ: Trước khi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu âm thanh có chứa từ ngữ, doanh nghiệp phải chủ động tra cứu phần từ ngữ đó trên hệ thống dữ liệu nhãn hiệu truyền thống nhằm loại trừ rủi ro trùng hoặc tương tự với các nhãn hiệu chữ đã được bảo hộ trước, đặc biệt là các nhãn hiệu nổi tiếng.
Kết luận
Thông tư 10/2026/TT-BKHCN đã thiết lập các tiêu chí kỹ thuật và định hướng cần thiết để triển khai công tác thẩm định nhãn hiệu âm thanh tại Việt Nam. Việc phân định rõ các trường hợp loại trừ tính phân biệt (tại khoản 3) và các trường hợp tương tự gây nhầm lẫn (tại khoản 2) mang lại sự minh bạch pháp lý, giúp các doanh nghiệp có căn cứ rõ ràng để xây dựng và bảo vệ tài sản trí tuệ dạng âm thanh trong hoạt động thương mại.

Quý khách cần tư vấn về Sở hữu trí tuệ & Pháp lý cho doanh nghiệp?
Monday VietNam cung cấp giải pháp pháp lý toàn diện cho doanh nghiệp, từ bảo hộ tài sản trí tuệ, pháp lý quản trị nội bộ, pháp lý tuân thủ, lao động nhân sự và giải quyết tranh chấp...
📞 Hotline: 086 200 6070
📧 Email: mdvn@mondayvietnam.com
* Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức và không làm phát sinh quan hệ tư vấn giữa người đọc và Monday VietNam. Do quy định pháp luật có thể thay đổi và việc áp dụng phụ thuộc vào từng trường hợp, doanh nghiệp nên liên hệ Monday VietNam để được tư vấn cụ thể.